|
Chez Andrew
Andrew Lam is a NAM editor and author of "Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora" (Heyday Books, 2005), which recently won a PEN/Beyond Margins Award.
[ filed under: literature asia ] My essay “Notes of a Warrior’s Son” from Perfume Dreams was translated into Vietnamese by Do Anh Dao below: Enjoy.. Những Ghi Chép Của Con Trai Người Chiến Sĩ hồi ký Tôi sắp sửa bằng tuổi cha tôi khi ông đến Hoa Kỳ từ Việt Nam ở cuối cuộc chiến. Tuy là tôi đã sống bằng nghề nhà báo và nhà bình luận hơn mười hai năm rồi, tôi vẫn phải cố gắng mới có thể ghi xuống những lời này, những lời mà tôi cần kể về một cuộc chiến đã qua từ lâu lắm, nhưng trên nhiều phương diện, vẫn chưa chấm dứt. Nó vẫn tiếp tục chia rẽ và làm chủ chúng ta. Có một thời, hồi xa xưa lắm ở miền nam Việt Nam, cha tôi từng là một tướng lãnh tự hào, một chiến sĩ trong một cuộc nội chiến dài hơn một phần tư thế kỷ. Là một đứa trẻ sinh ra trong chiến tranh ấy, tôi đã ngưỡng mộ một người đàn ông như là một ông thần hơn là một người cha. Không phải tôi đã từng tưởng tượng mình là một người lớn bước chung những bước quân hành với người đó hay sao? Nhưng rồi tất cả đã thay đổi. Đoạn cuối chiến tranh, khi đạn dược đã cạn và quân lính chỉ được phát khẩu phần súng đạn hạn chế và trực thăng không được phép bay, và sự ủng hộ của Hoa Kỳ đã xa vời, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho những chỉ huy của quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong bốn vùng chiến thuật rút quân lại để bảo vệ Sài Gòn, bỏ lại phần lớn đất nước bị Việt Cộng công kích. Cha tôi, Lâm Quang Thi, là một trung tướng, chỉ huy một đội quân lực lượng đặc nhiệm suốt chiều dài Khu Phi Quân Sự chia đôi đất nước Việt Nam. Vì không có kế hoạch rút lui, thoạt đầu ông đã chống lệnh, biện giải là rút quân mà không có kế hoạch rõ ràng sẽ gây ra nhiều chết chóc. Hơn nữa, những tấn công của miền Bắc vào lúc đó đang gay gắt nhất. Nhưng chỉ huy của ông ở Đà Nẵng vẫn ra lệnh rút lui, trích dẫn thủ tục hành pháp, và cha tôi phải chấp nhận. Cha và quân của ông lên tàu ở Huế và về lại Đà Nẵng, cách miền Nam khoảng năm mươi dặm. Và sau đó, khi Đà Nẵng về tay Việt Cộng, họ lại lên tàu về Vũng Tàu, một tỉnh ven biển về hướng đông Sài Gòn. Lúc đó tôi có gặp cha. Ông đã thay đổi hoàn toàn. Không còn nữa thái độ vương quyền và lạnh lẽo của một trung tướng ba sao với dáng oai nghiêm làm người gặp phải sợ. Có sự bối rối đâu đó trong đôi mắt ông và ông yếu ớt vì bịnh. Tôi chưa từng bao giờ thấy ông như vậy và điều này làm tôi ớn lạnh suốt xương sống. Nếu như cha tôi, một người mà tôi từng tôn thờ và tin rằng ông quyền thế và dũng cảm, cũng bất an và không nơi nương tựa, thì tất cả chúng tôi còn lại sẽ ra sao? Ở Vũng Tàu, cha nhận được lệnh phải đem mình tự thú. Ông và sáu ông tướng khác cùng bị bắt. Tội ác của họ: rút quân mà không có lệnh từ chỉ huy. Có nghĩa: quá nhiều quân lính và tướng tá cùng di chuyển trong một khu vực là một việc làm táo bạo trong quân đội, vì vậy cho nên tổng thống Thiệu phải ngăn cản một cuộc nổi dậy có thể xảy ra dù là quốc gia của ông, dưới sự tấn công tới tấp của quân đội Cộng Sản, đã hao mòn chỉ còn một phần tư. Một vài ngày sau đó và cuộc chiến đã chấm dứt. Nó kết thúc ngày ba mươi tháng tư năm 1975, khi xe tăng Việt Cộng lái vào Sài Gòn và có cả một chiếc đâm sụp cánh cổng tươi mát của Dinh Độc Lập khi những chiếc trực thăng đem những ngươì tị nạn lên tàu hải quân. Buổi sáng hôm đó, cha rời khỏi Việt Nam. Khi nhận được tin là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà đã đầu hàng, ông lên tàu ra biển với một vài trăm công chức khác và gia đình của họ trên sông Sài Gòn. Khi tới gần Vịnh Subic ở Phillipines khi họ xin nhà chức trách Hoa Kỳ cho nương náu, ông xếp bộ đồng phục quân đội của mình, thay mặc một cái quần jeans và áo sơ-mi, và lúc đó, một người vô quốc gia, ông vất khẩu súng của ông xuống biển. Tôi không có ở đó. Lúc đó tôi đã sang Guam, ra đi trên một chiếc máy bay đầy người tị nạn hoảng sợ rời khỏi Tân Sơn Nhất hai ngày trước lúc Sài Gòn mất. Tôi còn nhớ lúc rúc vào bên cạnh mẹ, chị, và hai bà của tôi, rời rạc nhìn Việt Nam biến mất ở phía chân trời bên ngoài cửa sổ. Ký ức kế tiếp của tôi là mùi vị của miếng bánh mì kẹp xúc xích và phó mát ở căn cứ không quân Hoa Kỳ. Dù tôi không chứng kiến cử chỉ đó của cha, tôi có thể thấy nó rõ ràng, vì đã tưởng tượng tới nó biết bao nhiêu năm nay. Tôi thấy bàn tay ông run rẩy trước lúc ông quăng khẩu súng thành một vòng cung bay trên mặt biển, dòng nước nâng lên nuốt mất nó. Tôi nhìn thấy đôi mắt ông nhìn vào một tương lai không ngờ trong cảnh tha hương, làn gió thổi mảnh áo trắng của ông chập chờn. Tôi không ở đó để chứng kiến sự kiện này, nhưng tôi đã coi cái giây phút khi ông vứt bỏ súng mình là một chỗ rẽ trong lịch sử riêng mình. Khẩu súng đó, nay rỉ sét ở đáy lòng biển, là một điểm ghi trong đời tôi. Nó đánh dấu sự kết thúc cái huyền thoại ấu thơ của tôi. Ngôi nhà đầu tiên của chúng tôi ở Mỹ là một căn chung cư chật chội cuối đường Mission, nơi thành phố San Francisco chấm dứt và khu vực ngoại ô bắt đầu. Bác tôi, bốn người con của bác và anh tôi, một du học sinh, đã cư ngụ ở đó, nhà không còn nhiều chỗ để ở. Chúng tôi ngủ ở mọi ngõ ngách: dưới bàn ăn, trên ghế sô-fa, trên võng, ba bốn người ngủ một giường. Bác tôi thì đã vật lộn với đời sống. Là vợ của một ông ngoại giao Việt Nam, và bị ông ta bỏ rơi, bác mở một nhà hàng nhỏ dưới lầu để sinh sống. Chúng tôi mọi người đều giúp việc nhưng đời sống rất khó khăn. Và tất nhiên mọi sự còn khó hơn vì ai cũng còn bị cơn sốc nặng tinh thần. Chúng tôi không có tin gì về cha khi ở trại tị nạn ở Guam, và khi mới tới Mỹ, cũng không biết gì về thân phận ông. Mẹ tôi, ngày càng hao mòn, mắt thì sưng đỏ vì đêm nào cũng khóc than từ ngày rời Việt Nam, không cất tiếng nhưng ai cũng biết bà đang nghĩ gì. Có lẽ là cha còn ở lại. Có lẽ là cha, với lòng yêu nước và trung thành với quân lính của ông, đã quay về với họ và cùng chiến đấu ở đâu đó dù kết quả ra sao. Và hơn nữa, mọi người đều biết ông ghét nhất là thua trận và có thể danh dự đó đã sai khiến ông làm một hành động quyết liệt nhất của những người cùng thời với ông: tử thủ. Đã có những tướng chỉ huy khác tự vẫn khi đồn trại của họ bị Việt Cộng chiếm được. Tôi đã nghe mẹ thầm thì những từ này với cô tôi một đêm, và sau đó tôi không tài nào ngủ được. Tử thủ: phòng thủ tới chết. Tử thủ, tử thủ, những từ này lập đi lập lại trong đầu tôi. Nhưng một buổi trưa nọ ở nhà hàng điện thoại reo. Mẹ bắt lên. Ở bên kia là tiếng nói của cha. Bà nghẹn ngào. Bà khóc lóc. Bà nói không thành tiếng. Rồi bà phát cười. Họ không trò chuyện lâu lắm nhưng khi bà cúp điện thoại, bà và bác tôi ôm lấy nhau. Tôi nhìn họ từ đằng sau quầy bếp khi hai người đàn bà ôm nhau khóc giống như những người đã lênh bênh trên biển rất lâu, đột nhiên thấy một con tàu cứu vớt ở chân trời. Chỉ lúc này, khi tôi thấy mẹ tôi vui trở lại là tôi mới nhận biết được cái mà chúng tôi đã trải qua bao lâu nay từ lúc rời Việt Nam: sự tuyệt vọng. Đám mây tăm tối bay đi. Tối hôm đó tôi lại nghe tiếng cười của người lớn. Nụ cười hiếm hoi đến nỗi nó có cảm tưởng như chúng tôi lại được đang ở Việt Nam trong những ngày Tết. Mọi người trong gia đình cùng nói một lúc. Mọi người cười vui vẻ. Mọi người đùa giỡn. Chúng tôi bàn tính sẽ làm một bữa tiệc ăn mừng khi cha tới Mỹ. Chúng tôi không còn là những cái bóng vật vờ trong căn chung cư tốt tăm. Tôi nhớ mình đi qua đi lại, người thì rung lên vì vui mừng và nôn nóng. Cha sắp tới rồi. Chúng tôi sẽ hoàn phục, phục hồi gia phong, có phải vậy không? Có một thời gian trong căn chung cư chật chội đó, cha tôi, ông trung tướng tha hương, suy tư nghiền nghẫm. Ông đọc báo nhưng không tìm công việc làm. Ông uống rượu mỗi tối và coi TV. Tôi thường lại gần ông và ngồi trong lòng ông, và cha và con cùng ngồi như chúng tôi đã từng làm ở Việt Nam. Ông thường vuốt tóc tôi một cách lơ đãng, hôn má tôi và để tôi ôm ông. Nhưng lúc đó tôi lớn lên rất nhanh, giọng tôi bắt đầu vỡ, và tuy rằng tôi có thể nhớ được ngồi cạnh ông, tôi cũng có thể cảm thấy được là có một điều gì đó trống vắng. Ông làm những hành động cũ nhưng đôi mắt ông nhìn những gì không hiện diện trong căn phòng khách đó. Trên màn ảnh cái TV trắng đen, Walter Cronkite kể cho chúng tôi nghe những ghê sợ của Đông Dương sau chiến tranh: những người đi vượt biên chết trên biển, Cam pô chia biến mất dần dưới sự cầm quyền của Khờ me đỏ, và nhiều điều khác. Cha tôi phản ứng lại với những tin tức buồn đó bằng một tiếng trầm và khàn khàn như ông là một con thú đang bị giam cầm, “Hờ! Hờ!” Giữa khuya trong phòng riêng của họ, cha mẹ tôi cãi nhau. Mẹ tôi – người đã đứng đợi dưới một cái dù, tại bãi biển Đà Nẵng trong những ngày cuối cuộc chiến, chờ hải quân của cha tôi đến đón từ Huế – trong khi lực lượng Việt Cộng và súng cối của họ bắn từ đèo Hải Vân đến thành phố sau chỗ bà đứng, đã giết hàng trăm người; mẹ tôi – một người tình trung thành như trong những câu truyện ngụ ngôn Khổng Giáo – bây giờ dọa rằng bà sẽ bỏ cha tôi nếu như ông không sửa đổi. “Một bà vợ ông trung tướng bây giờ làm phụ bếp. Tại sao ông chồng không làm bất cứ gì đó để phụ giúp?” Mẹ tôi la lớn. Có phải ông muốn thấy con ông chết đói ở Mỹ hay sao, bà hỏi? Tôi không nhớ là cha tôi có trả lời bà không, hay là ông có nói bất cứ điều gì hay không, trừ việc bảo bà nhỏ tiếng lại. Tôi nhớ, hai bà nội ngoại của tôi lắc đầu và lần tràng hạt của họ trong phòng khách, giả bộ như không nghe thấy. Điều gì đã xảy ra đến với người chồng, người cha, người con gan dạ, tài giỏi, và hào hoa? Người đàn ông trầm lặng này là ai, người đã bốn mươi ba tuổi nhưng chỉ trò chuyện khi đã say sưa? Bên ngoài cửa sổ, bên kia đường, trong bãi đậu xe ngoài chợ, anh tôi là một bóng hình cô độc trong bóng tối. Anh dọn dẹp và lau quét, làm một người phu công lương ít. Anh đã rời Việt Nam như một chàng hoàng tử. Anh không phải chạy trốn như kẻ tị nạn giống chúng tôi, nhưng lịch sử cũng bắt được anh và biến anh trở thành một kẻ nghèo. Vì vậy mà anh co mình lại, ủ rũ thẫn thờ. Anh tôi, người đã từng tôn thờ và kính mến cha tôi, đã từng theo cha trên trực thăng đến những khu vực chiến đấu lúc anh còn nhỏ và được cha sai việc coi bản đồ, đã từng thực tập cực khổ để có thể đoạt được đai đen võ Tae Kwon Do lúc anh mười hai tuổi để có thể làm cha hài lòng, trở thành người con quá quắt ở Mỹ. Anh cãi lời cha. Đôi khi anh tát mặt tôi. Anh bập bềnh giữa hai người, một người con ngoan ngoãn và một thiếu niên nghiện ngập, giữa chuyện làm anh hùng trong một cuộc chiến đã thua và cái cố gắng nổi loạn với số mệnh. Có những đêm anh về nhà khi đã say mềm và làm cho gia đình tôi càng nổi lửa trong cơn bất mãn. Thật sự gia đình tôi đã có một mơ ước kín đáo: Cha sẽ bằng cách nào đó hoàn phục thanh danh chúng tôi. Chúng tôi thật đã không sẵn sàng để có thể chấp nhận cái thực tế mới – làm sao làm được? Chúng tôi cũng không thể chấp nhận là kể cả cha mình cũng không có cách nào khác, cha cũng ở trong cơn sốc nặng nề và bị ám ảnh bởi quá nhiều chết chóc. Kể cả cha cũng có yêu ma quỷ dữ chế áp tinh thần. Gần hai năm sau thì cha mới có thể thoát khỏi những yêu ma áp chế đó để có thể làm lại từ đầu, đưa chúng tôi vào đời sống thoải mái hơn, để làm được một công việc với sức mạnh phi thường, đạt được bằng cao học thương nghiệp học trường đêm trong khi ban ngày thì làm việc ở ngân hàng. Nhưng đến lúc đó thì tình thương, sự kính trọng, và lòng hiếu thảo đã từng sưởi ấm và xây dựng gia đình tôi đã đổ vỡ; Hoa Kỳ và tất cả những cám dỗ ở đó đã tràn vào, chia rẽ chúng tôi, làm cho chúng tôi trở thành xa lạ với nhau. Tốt nghiệp tú tài triết học Pháp, người từng đọc Camus và ái mộ La Fontaine, đoạt đai đen hạng ba võ Tae Kwon Do, một chiến sĩ và nhà triết học, đáng lẽ cha phải không nhất thì nhì. Ở Việt Nam, vì những chiến công huy hoàng của ông và làn da ngăm đen của ông, Việt Cộng từng gọi ông là, “Con Beo Đen Của Miền Nam”, một lời khen hiếm hoi. Nhưng sân khấu nơi ông từng đóng vai chính bây giờ không còn nữa, trôi dạt đi ngay dưới chính đôi bốt quân đội của ông. Ở Mỹ thì ông bị kiềm chế, nản lòng, và trong một thời gian, lạc đường lạc lối. Ở Mỹ thì ông chỉ làm chủ ký ức của mình, và rồi ký ức của ông bắt đầu làm chủ ông. Tuy ông không cáu kỉnh khi say rượu, nhưng sự im lặng của ông rồi cũng mở đường cho một giọng nói to lớn kể chuyện những cuộc chiến ông đã thắng. Lúc này thì bác tôi và con bác đã dọn ra ngoài ở, và cô út tôi, người trẻ nhất trong ba chị em và gia đình cô đã dọn vào. Cô đi làm ở nhà hàng trong khi hai anh em rể bắt đầu lễ nghi hồi tưởng. Chú tôi từng làm thủ lĩnh đội nhảy dù trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Chú đã chia sẻ một phần nào những đổ máu. Thường thường thì chú ngồi uống rượu với ba tôi mỗi tối và hai chiến sĩ phòng khách so sách với nhau những vết thương chiến trận, kể lại tất cả những hành động dũng cảm và ngu si họ đã từng làm khi họ còn là lính, còn là trai trẻ. Nhớ hồi ở Sa Đéc khi Việt Cộng đến tấn công nhà mình… Trong kiểu này, mỗi tối chiến tranh đều trở về. Trong căn phòng khách ọp ẹp, những tiếng nổ B-52 vang lên, bom napan nổ lên giữa cánh rừng dày dặm, trực thăng đáp xuống giữa đồng ruộng màu mỡ. Có nhiều khi tôi cũng nhắm mắt lại và mơ màng. Tôi nhớ lại chuyến bay trực thăng của chúng tôi trên đồng ruộng từ Quảng Trị về Huế, và tôi nhớ vầng trăng tròn vàng theo đuổi chúng tôi trên những ô vuông thẳng thắn dưới đất. Tôi nhớ đứng chung với cha tôi một cách hãnh diện trong một cuộc diễn hành ở Đà Lạt. Và có một đêm khi ông kể về Huế tôi thấy mình ở một lần nữa trên bờ sông Hương, chờ cho trực thăng của cha đáp xuống, những lưỡi cỏ phất phới. Khi cha xuống tới, tôi chạy vào lòng cha và ông bồng tôi vào lòng trong tiếng cười hạnh phúc. Những nụ hôn của cha rát râu của ông và đồng phục của ông toả ra đầy mùi mồ hôi, dầu thơm, bùn đất, xì gà, và thuốc súng – những hương vị tôi luôn nhớ của chiến trường. Tôi thật hạnh phúc trong cái ôm đó, hạnh phúc thật nhiều bên cạnh một dòng sông cổ kính tên được đặt theo mùi hương những nụ sen nở cuối hè; dòng sông chảy như lịch sử, có những lúc mãnh liệt, có những lúc êm đềm, và đến lúc đó vẫn có bên phía chúng ta… Khi tôi mở mắt ra và nhìn chung quanh, tôi nhìn thấy một thế giới thật khác lạ: hai người đàn ông ngồi trên một sô-fa cũ kỹ dưới ánh đèn mờ, kể lại những gì đã xa mất, màn ảnh tivi chiếu Carol Burnett và Tarzan, một tấm hình bạc màu chụp cầu Golden Gate trên tường, những màn cửa rách rưởi, và, bên ngoài cửa sổ, siêu thị L và M với những người đi chợ giai cấp công nhân và sương mù bay bay – thế giới lạnh lẽo và ảm đạm mới của tôi. Cha tôi thì cứ kể tiếp. Giọng say rượu của ông lung lay tất cả những màn kính trong ngôi nhà mới của chúng tôi, khuấy động từng hạt bụi, và tràn đầy trong tôi, một cách chầm chậm mà chắc chắn, một khung cảnh diệt vong. Thất trận của ông là di sản của tôi; cay đắng của ông là kế thừa của tôi. I am approaching my father’s age when he came here to America from Vietnam at the end of the war, I have been making a living as a commentator and journalist for more than a dozen years, and still I’m struggling to write down these words, what I need to tell. The war is long over, yet it hasn’t, in many ways, ended. It continues to divide as well as claim us. Once, a long time ago in South Vietnam, my father was a proud general, a warrior fighting in a civil war that lasted more than a quarter of a century. As a child born in the middle of that war, I had looked up to a man who had seemed more like a deity. Hadn’t I imagined myself as an adult walking in his soldierly footsteps? But then it all changed. Near the end of the war, when ammunitions were dwindling and soldiers had to ration bullets, and with Americans support long gone, president Nguyen Van Thieu ordered many South Vietnam’s commanders from the 4 military regions to pull back troops and protect the larger vicinity of Saigon, leaving the rest of the country vulnerable to the invading communist army. My father, Thi Quang Lam, was a lieutenant general, commander of an Army Corps Task Force along the Demilitarized Zone that divided Vietnam in two. Since there were no retreat plans he resisted at first, arguing that it would cause many deaths and besides, attacks from the North hadn’t been so intense there as they were elsewhere, but his superior commander in Danang ordered it the second time, citing executive orders, and my father relented. Father and his troops boarded naval ships in Hue and came back to Danang, fifty miles to the south, and then, a few days later when Danang fell, on to more ships to Vung-Tau, a coastal town east of Saigon. I saw him then. Father was a changed man. Gone was the regal and cold demeanor of the three-star general whose presence once struck fear in others. There was agitation in his eyes, and he was deathly ill. I hadn’t seen him such a state before and it sent chills up and down my spine. If father, who I worshipped and believed to be fearless and powerful, were distraught and rendered helpless, then what would become of the rest of us? In Vung Tau, father received orders to turn himself in. He and 6 other generals were under arrest. Their crimes: withdrawing troops without executive orders. Read: so many displaced and displeased generals in one area could spell a military coup, and president Thieu was preventing that potential uprising even as his empire was, due to the advancing communist army, dwindling to a fourth of its previous size. While the military commanders languished in jail, and the lower ranking officers tried to hold their restive military personnel together, Thieu fled the country, to be followed by those who could afford to and those with high connections overseas. A week or so after Thieu left, my father and the other generals were released from jail. A few days after that and the war ended. It ended on April 30th, 1975 when communist tanks rolled into Saigon, and one in particular, crashed dramatically through the gilded gates of the Independent Palace while helicopters carrying refugees fled out to waiting naval ships. On that same day Father left Vietnam. Upon news of the South Vietnamese government had surrendered, he boarded a naval ship with a few hundred other Vietnamese officials and their families on the Saigon River and headed out to sea. Nearing Subic Bay in the Philippines where they asked U.S. authorities for asylum he folded away his army uniform, changed into a pair of jeans and a shirt, and, now a stateless man, tossed his gun into the water. I was not there. I was already in Guam, having left inside a humming C-130 cargo plane full of panicked refugees out of Tan Son Nhat Airport two days before Saigon fell. I remember huddling next to my mother, older sister and two grandmothers, sporadically watching Vietnam recede from the horizon through the plane’s window. My next memory is of eating an impossibly delicious ham and cheese sandwich in a hangar of a U.S. air base. I was 11 years old. Though I did not bear witness to Father’s gesture, I can see it so clearly, having imagined it over the years. I see father’s hand trembling before he flings the gun out in an arc over the sea which rises to swallow it. I see his eyes looking out to the water as he thinks about an uncertain future in exile, the wind sending his white shirt to billow. I was not there to witness it, but I’ve come to regard that moment when he jettisoned his gun into the sea as a major turning point in my own story. That gun, rusting at the bottom of the sea, serves as a kind of marker. It spelled the end of my childhood mythology. * Our first home in America was a crowded 2-bedroom apartment near the end of Mission Street, where San Francisco ended and the suburbs began. My aunt and her 4 children and my older brother, a foreign student boarding with them, had occupied it before we joined them, and there was little space to be had. We slept where we could: under the breakfast table, on cots and couches, three to a bed. My aunt had been struggling. Married to a Vietnamese career diplomat who had abandoned her, she ran a small restaurant downstairs to make ends meet. We all pitched in but it was difficult going. It did not help that we were still in profound shock. We received no news of Father when we were in the refugee camp in Guam, nor did we know of his fate when we first came to America. My mother, who looked haggard, whose eyes were hollow and red from crying each night since we left Vietnam, didn’t say it but it was on her mind. Father could have stayed behind. Father could have, out of patriotism and of loyalty to his men, rejoined them and fought on somewhere regardless of the outcome. Besides, we all knew, he hated losing and honor dictated that most drastic action of all among the men of his generation: Tu Thu. Other generals had committed suicide when their outposts were overrun by communist forces. I had heard her whisper the words to my aunt one night, and afterwards, I couldn’t go to sleep. Tu thu: defending to the death. Tu thu, tu thu, the words echoed ominously in my head. But then one afternoon at the restaurant the phone rang. Mother picked it up. On the other end was father’s voice. She gasped. She cried. She was speechless. She recovered herself and laughed. They didn’t talk long but when she hung up, she and my aunt hugged each other. I watched from the kitchen counter as the two women wept in the manner of people who have been struggling to stay afloat at sea for a long time and suddenly saw some ship at the horizon. It was only when I saw my mother happy again that it occurred to me what it was that we had experienced since we left Vietnam: despair. A dark cloud lifted. That night I heard the adults laugh. It was so rare that it felt as if we were living in Vietnam again during the festive days of Tet. My family was talking all at once. We smiled. We joked. We talked about having a party to welcome Father to his new home. We were no longer shadows flitting about in the dank and dark apartment. I remember walking about, trembling with joy and anticipation. Father was coming. We would be whole again, restored to our nobility once more, wouldn’t we? * For a while inside that crowded apartment my father, the exiled general, brooded. He read newspapers but hadn’t moved toward finding a job. He drank every evening and watched TV. I would sidle up to him and sit on his lap and father and son would cuddle like it used to be in Vietnam. He would absentmindedly rub my hair, kissed my cheek and let me hug him. But I was growing up very fast, my voice had begun to change, and though I remember being next to him, I also felt that something was amiss. He was going through the gestures but his eyes were staring at things that were not in that living room. On the old black and white TV, Walter Cronkite was telling us of the horror of post-war Indochina: boat people dying on the high sea, Cambodia disappearing under Khmer Rouge control, and so on. Father responded to all the bad news by making a low, throaty sound as if he were a caged animal, “Huh!” “Huh!” Late at night in the privacy of their own room my parents argued. My mother, who had waited near the end of the war on the beach of Danang under an umbrella for father’s naval ship to dock from Hue while communist mortars fell from the Hai Van Pass onto the city behind her, killing hundreds, mother who showed the kind of loyalty that could easily be glorified in any Confucian parables, now threatened to leave him if he wouldn’t shape up. “A three star general’s wife is now a short order cook why not her husband working as something, anything?” mother shouted. Did he want to see his children starve to death in America, she asked? I don’t remember Father’s response, if in fact he’d said anything at all, besides telling her to keep it down. I remember, however, my two grandmothers shaking their heads and counting their rosaries in the living room, pretending not to hear. What happened to the brave, brilliant handsome husband and father and exemplary son? Who was this quiet man who, at 43, only talked when he drank? Outside the window, across the street, in the supermarket parking lot, my brother was a lone figure in semidarkness. He swept and cleaned, a janitor making very little money. He’d left Vietnam a prince. He didn’t flee as a refugee like the rest of us but history had caught up with him just the same and turned him into a pauper. So he withdrew into himself and moped. My brother, who had adored and worshipped my father, who had accompanied him even to the war zones on helicopter when he was young and served as father’s map bearer, and who had worked extremely hard to earn a black belt in tae kwon do at the age of 12 in order to please him, became impossible in America. He talked back. He slapped me around on occasions. He fluctuated between obedient son and brooding teenager, between wanting to be a hero in a lost war and wanting to rebel against fate. He would some night come home drunk and add to the growing fire of familial discontent. Secretly the rest of the family had nursed a fantasy: father would somehow restore us to the glory of an upper class life. We were not fully prepared to accept our new reality – how could we? Nor could we accept that father was himself helpless, that he was in a state of profound shock and was haunted by the deaths of so many; that he had demons of his own. It would take almost two years for his demons to release some of their hold on him so that he would begin to remake himself, to move us into a middle class life, to obtain, in what seemed like a Herculean task, an MBA through night school while working at the bank as a trust officer, but by then the love and respect and filial piety that insulated and gave structure to our family had cracked and waned, and America and all of its allures had seeped in, dividing us, redefining us, such that we were becoming strangers to one another. |
|


comments